Lý luận chính trị

Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh

1. NGUỒN GỐC, BẢN CHẤT VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG

Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội.

Với tư duy độc lập sáng tạo, Hồ Chí Minh đã xuất phát từ thực tiễn Việt Nam kế thừa có chọn lọc, thấu hóa những giá trị truyền thống đạo đức dân tộc, kế thừa tư tưởng đạo đức phương Đông, những tinh hoa đạo đức của phương Tây, đặc biệt là đạo đức của chủ nghĩa Mác – Lênin cũng như những tấm gương đạo đức trong sáng mà các ông đã để lại, từ đó, đề xuất những tư tưởng đạo đức trong thời đại mới. Đạo đức do Hồ Chí Minh đề xướng và cùng với Đảng dày công xây dựng là đạo đức mới, đạo đức cách mạng.

Theo quan niệm của Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng ra đời không chỉ từ sự thay đổi của “cách sản xuất và sức sản xuất”, mà còn xuất phát từ tính chất khó khăn, từ sự đòi hỏi tự nhiên của thực tiễn cách mạng Việt Nam: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rát nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”. Như vậy, đạo đức cách mạng được hình thành trong quá trình “làm cách mạng”, xét về mặt chính trị – xã hội đó chính là cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản, của cả dân tộc chống lại giai cấp địa chủ phong kiến, thực dân và với thắng lợi của cách mạng Việt Nam, từ đạo đức giai cấp của giai cấp vô sản, đạo đức cách mạng biến thành quy luật đạo đức của toàn xã hội.

Trong tác phẩm Đạo đức cách mạng năm 1958, Hồ Chí Minh còn khẳng định rằng: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Câu nói có ý nghĩa rất lớn, góp phần phủ định nguồn gốc ra đời của đạo đức là từ “trên trời”, mang tính tự nhiên hay nói cách khác là đã loại bỏ quan điểm tôn giáo về nguồn gốc và bản chất của đạo đức. Từ đó, góp phần khẳng định tính cách mạng của đạo đức mới. Sự hình thành của đạo đức cách mạng là cả một quá trình, đòi hỏi thời gian, luôn có sự biến chuyển về mặt lịch sử. Quá trình “đấu tranh, rèn luyện” đó thực chất cũng là bắt nguồn từ đời sống xã hội đó thay đổi lại góp phần bổ sung, “phát triển” và “củng cố” cho một nền đạo đức mới.

Như vậy, Hồ Chí Minh gọi là “đạo đức mới”, đạo đức cách mạng, vì nó chủ yếu được hình thành từ trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc và phát triển cùng với tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta. Nó phục vụ cách mạng và là đạo đức mà người cách mạng cần phải có. Đạo đức mới mang bản chất của giai cấp công nhân, kết hợp với truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa đạo đức của nhân loại, là những chuẩn mực đạo đức của những người cộng sản về chân, thiện, mỹ nhằm điều chỉnh hành vi ứng xử của những người cộng sản với nhau, với tổ chức và với nhân dân lao động. Đó còn là đạo đức không phải vì danh lợi cá nhân mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của thế giới. Đạo đức mới hoàn toàn khác với đạo đức cũ (đạo đức phong kiến, đạo đức tư sản). Điều này đã được Hồ Chí Minh nói rõ: “Có người cho đạo đức cũ và đạo đức mới không có gì khác nhau. Nói như vậy là lầm to. Đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất chân chổng lên trời. Đạo đức mới như người hai chân đứng vững được dưới đất, đầu ngửng lên trời”.

Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh có sự thống nhất giữa chính trị và đạo đức, giữa tư tưởng đạo đức và hành vi đạo đức, giữa đức và tài. Đạo đức mới được Hồ Chí Minh đề cập một cách toàn diện, đến mọi đối tượng, mọi phạm vi, mọi lĩnh vực, trong nhiều mối quan hệ nhưng nổi lên là ba mối quan hệ chủ yếu với mình, với người, với việc. Điều đặc biệt là Người không chỉ nêu, mà ở những thời điểm nhất định, Người còn chỉ rõ các tiêu chí, tiêu chuẩn đạo đức để mỗi đối tượng tự rèn luyện, tự tu dưỡng và là mực thước để mọi người đánh giá, như năm điều Bác Hồ dạy thiếu nhi, sáu lời dạy công an nhân dân…

2. VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG

Hồ Chí Minh khẳng định đạo đức là nền tảng quan trọng, là thước đo lòng cao thượng của con người và với người cách mạng, nó lại càng quan trọng hơn, vì nó là gốc của người cách mạng. Người nói: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” !. Bởi đối với nhân dân niềm tin chính trị gắn liền với niềm tin đạo đức của người lãnh đạo, đạo đức của mỗi người cán bộ, đảng viên lãnh đạo trong Đảng ảnh hưởng rất lớn đến sự thu phục quần chúng nhân dân. Do đó, sự nêu gương đạo đức ở mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người lãnh đạo càng giữ vai trò quan trọng. Một khi quần chúng đã mất niềm tin đạo đức của người lãnh đạo thì niềm tin vào chế độ chính trị của họ có nguy cơ không còn. Người chỉ rõ: Cán bộ, Đảng viên muốn cho dân tin, dân phục thì “không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”.

Như vậy, sự thành bại của một cuộc cách mạng, có liên quan trực tiếp đến đạo đức. Trong quá trình đấu tranh cách mạng, néu người cách mạng giữ được đạo đức thì cách mạng thành công, nếu không giữ được đạo đức thì cách mạng thất bại, vì sự tha hóa về đạo đức dẫn đến sự tha hóa chính trị. Đạo đức cách mạng tạo nên sức mạnh vô địch để chiến thắng kẻ thù, tạo thành động lực giúp mỗi người vượt lên trong mọi hoàn cảnh, cả những lúc thuận lợi cũng như những lúc khó khăn, giữ vai trò trọng yếu trong quá trình hoàn thành nhiệm vụ của mỗi người cách mạng.

Tuy nhiên, Hồ Chí Minh không bao giờ tuyệt đối hóa vai trò của đạo đức cách mạng. Trong tư tưởng của Người, đặc biệt là trong chiến lược giáo dục hay lựa chọn cán bộ, Người luôn đồng thời chú trọng cả đức và tài. Bản thân Người cũng là biểu tượng cao đẹp cho sự thống nhất đó. Người từng nói: “Có tài mà không có đức ví như một anh làm kinh tế tài chính rất giỏi nhưng lại đi đến thụt két thì chẳng những không làm được gì ích lợi cho xã hội, mà còn có hại cho xã hội nữa. Nếu có đức mà không có tài ví như ông Bụt, không làm hại gì nhưng cũng không lợi gì cho loài người”.

3. NHỮNG PHẨM CHẤT ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CƠ BẢN

Tùy vào mỗi đối tượng, Hồ Chí Minh sẽ đề cập đến những phẩm chất đạo đức mới phù hợp. Nhưng khái quát lại, có bốn phẩm chất đạo đức cách mạng cơ bản được Người nhắc đi nhắc lại nhiều lần, xem như là những chuẩn mực chung nhất của nền đạo đức cách mạng, mà mỗi người cần phải có và chính Người là tấm gương sáng cho những giá trị chuẩn mực đó.

3.1. Trung với nước, hiếu với dân

“Trung” và “Hiếu” vốn là những khái niệm đã có trong lịch sử tư tưởng Việt Nam. Tuy nhiên, nội hàm của các khái niệm này chịu ảnh hưởng của tư tưởng đạo đức Nho giáo, nên chỉ chứa đựng nội dung hạn hẹp: “Trung với vua, hiếu với cha mẹ”.

Đến Hồ Chí Minh, Người đã đưa vào khái niệm cũ, một nội dung mới, mang tính cách mạng, đó là “Trung với nước, hiếu với dân”. Đây là chuẩn mực đạo đức có ý nghĩa hàng đầu.

Biểu hiện của chữ Trung trong Nho giáo là “quân xử thần tử thần bất tử bất trung”. Nội dung của “Trung với nước” trong quan điểm của Hồ Chí Minh là: Phải yêu nước gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội, trung thành với con đường mà đất nước và nhân dân đã lựa chọn; có trách nhiệm xây dựng, bảo vệ, phát triển đất nước, quyết tâm phấn đấu thực hiện mục tiêu cách mạng, “sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” ?; đồng thời, thực hiện tốt mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Nước là của dân, dân là người chủ của nước. Do vậy, trung với nước, tất phải hiếu với dân. Hiếu với dân thể hiện ở yêu dân, tin dân, kính dân, lấy dân làm gốc; đề cao tinh thần phục vụ nhân dân; quan tâm và chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; tôn trọng phát huy quyền làm chủ của nhân dân; tổ chức, vận động nhân dân thực hiện tốt mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Hồ Chí Minh đưa ra quan điểm và trọn cuộc đời, Người đã làm đúng như thế. Trong Di chúc, Người viết: “Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”.

3.2. Cần, kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư

Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là biểu hiện sinh động của phẩm chất “trung với nước, hiếu với dân”; là phẩm chất trung tâm của đạo đức cách mạng trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh; là bốn đức tính cần có của mỗi con người trong mối quan hệ với tự mình”. Vì thế, “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” là nền tảng của đời sống mới, của thi đua ái quốc”.

Theo Hồ Chí Minh thì:

“Cần là siêng năng, chăm chỉ, cố gắng dẻo dai, biết tính toán, có kế hoạch và biết động viên mọi người cùng thực hiện. Bởi chữ Cần chẳng những có nghĩa hẹp như “tay siêng làm thì hàm siêng nhai”, mà còn có nghĩa rộng là “mọi người đều phải cần, cả nước đều phải Cần”. Cả nhà siêng năng thì chắc ấm no, cả làng siêng năng thì làng phồn thịnh, cả nước siêng năng thì nước mạnh giàu. Cần là “luôn luôn cố. gắng, luôn luôn chăm chỉ, cả năm, cả đời. Nhưng không làm quá trớn. Phải biết nuôi dưỡng tinh thần và lực lượng của mình để làm việc cho lâu dài”. Từ việc giải thích rõ như thế nào là “Cần”, Người khẳng định một điều rằng: “Lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của mỗi chúng ta”. Do đó, tích cực lao động, học tập, công tác với tinh thần sáng tạo, có năng suất, chất lượng, hiệu quả cao; biết quý trọng công sức lao động và tài sản của tập thể của nhân dân là một nhiệm vụ quan trọng mà mỗi người cần phải thực hiện.

Thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu: Người cho rằng “Kiệm” là tiết kiệm, không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi”. “Kiệm” không chỉ dừng lại là không lãng phí thì giờ, của cải của mình và của nhân dân”, mà còn tiết kiệm sức lao động. “Kiệm” muốn có kết quả phải đi liền với “Cần”: “Cần mà không Kiệm, thì làm chùng nào, xào chừng ấy”. Cũng như một cái thùng không có đáy, nước đổ vào chừng nào chảy ra hết chừng ấy, không lại hoàn không”, “Kiệm” không chỉ cần cho một người, mà cần cho cả một phong trào, một đất nước. Khi thực hiện được “Kiệm” cũng đồng thời thực hiện được | Liêm”, nghĩa là chống được tham ô, lãng phí, quan liêu và bởi “Có kiệm mới liêm được, vì xa xỉ mà sinh tham lam”, “tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng, tham ăn ngon, sống yên ổn đều là bất liêm”. Do bất hiếm mà đi đến tội ác, trộm cắp. Công khai hay bí mật, trực tiếp hay gián tiếp, bất liêm tức là trộm cắp. Trong quá trình xây dựng nền đạo đức mới, Hồ Chí Minh luôn yêu cầu cán bộ phải thực hành chữ Liêm trước để làm kiểu cho dân và Người khẳng định rằng: “Một dân tộc biết cần kiệm, biết liêm là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh tiến bộ”, Dân tộc ta đang trong quá trình xây dụng và bảo vệ đất nước, chẳng những chúng ta phải Kiệm mà còn phải luôn luôn đề cao việc thực hành chữ Liêm, nhất là những người trong công sở phải lấy chữ liếm làm đầu”.

Cần, kiệm, Liêm là gốc rễ của Chính: “Chính nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đúng đắn đối với mình, với mọi người và mình với mọi công việc. Đối với mình “chớ tự kiêu, tự đại” tự kiêu, tự đại là thoái bộ; đối với người không nịnh trên, khinh dưới, không dối trá, lừa lọc, luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết. Đối với việc thì để việc công lên trên, lên trước việc tư, việc nhà. Được giao nhiệm vụ gì quyết làm cho kỳ được, việc thiện dù nhỏ mấy cũng làm, việc ác thì dù nhỏ mấy cũng trảnh”,

Thực hiện Chỉ công, vô tư đồng nghĩa với việc phải kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng, chỉ công theo quan ) điểm của Hồ Chí Minh là rất mực công bằng, còn vô tư là không được có lòng riêng, thiên tự, thiên vị “tự Ân, tự huệ, hoặc tự thủ, tự bản”, đem lòng chỉ công, vô tư đối với người, với việc, “Khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau”, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Nhưng để Chí công vô tư tất yếu phải chiến thắng được chủ nghĩa cá nhân, “Nó là mẹ đẻ ra tất cả mọi tình hư nết xấu như: lười biếng, suy bì, kiêu căng, kèn cựa, nhút nhát, lãng phí, tham ô, v, v. Nó là kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng, của chủ nghĩa xã hội”. Người cảnh báo: “Một dân tộc, một Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định ngày hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu quý và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.

Đối với Hồ Chí Minh giữa các đức tính đó, luôn có mối quan hệ biện chứng với nhau. Người nói: “Muốn tăng gia sản xuất, mọi người phải cần, phải kiệm. Không cần thì phí thời giờ nhiều sản xuất được ít. Không kiệm thì làm được bao nhiêu, dùng hết bấy nhiêu, rút cục cũng như sản xuất ít, Tăng gia sản xuất ích riêng cho mình mà cũng ích chung cho cả nước. Nếu không có tinh thần liêm và chính, nếu tham lam ích kỷ thì không thể phát đạt việc tăng gia sản xuất, vì vậy, tăng gia sản xuất và đời sống mới phải đi đôi với nhau, không thể lìa nhau”.

Hồ Chí Minh là một tấm gương mẫu mực về Cần Kiệm Liêm Chính Chí công vô tư. Tại khu Phủ Chủ tịch là di sản lịch sử – văn hóa đã để lại nhiều dấu ấn mang đậm tính nhân văn cao cả của Người, là minh chứng điển hình cho những điều đó, khách nước ngoài đến thăm nơi ở và làm việc của Hồ Chí Minh, đã viết: “Nơi đây không có chỗ cho sự xa hoa và cũng chẳng có chỗ cho sự tầm thường”, “rất mực giản dị và thanh đạm, nhưng không loại trừ việc tìm cái đẹp”.

3.3. Thương yêu con người

Hồ Chí Minh đã xác định tình yêu thương con người là một trong những phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chữ người nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn. Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người. Trừ bọn Việt gian bán nước, trừ bọn phát xít thực dân là những ác quỷ mà ta phải kiên quyết đánh đổ, đối với tất cả những người khác thì ta phải yêu quý, kính trọng, giúp đỡ”

Tấm lòng yêu thương con người, yêu thương nhân dân ở Hồ Chí Minh đã được Người khái quát thành đạo lý sống, lẽ tự nhiên và chính Người là “hiện thân của chủ nghĩa nhân văn cao cả, chủ nghĩa nhân văn cộng sản, là một con người nhân ái, vị tha”. Người nói: “Nghĩ cho cùng, mọi vấn đề… là vấn đề ở đời và làm người. Ở đời và làm người là phải thương nước, thương dân, thương nhân loại đau khổ bị áp bức.

Hồ Chí Minh khẳng định lòng yêu thương của Người đối với nhân dân và nhân loại không bao giờ thay đổi. Nhưng trước hết là đối với những người lao động, những người cùng khổ không chỉ ở Việt Nam, ở các thuộc địa mà ở khắp mọi nơi trên trái đất này. Trước lúc đi xa, trong Di chúc, Người viết: “Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng. Tôi cũng gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn, và các cháu thanh niên nhi đồng quốc tế”.

Biểu hiện cao nhất tình yêu thương con người của Hồ Chí Minh là sự quý trọng nhân dân, chăm nom đến mọi mặt đời sống của nhân dân, quan tâm đến nhu cầu, nguyện vọng của cả dân tộc và mỗi người dân Việt Nam; thấy rõ vị trí, vai trò, sức mạnh của nhân dân và không ngừng đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng con người, mang lại “độc lập, tự do, hạnh phúc” cho nhân dân. Vì vậy, lòng yêu thương con người của Hồ Chí Minh mang đậm tính nhân văn sâu sắc.

Từ cái lõi cốt của học thuyết Mác là chủ nghĩa nhân văn mác xít, Hồ Chí Minh đã từng nói: “Nhân dân ta từ lâu đã sống với nhau có tình có nghĩa. Từ khi có Đảng ta lãnh đạo và giáo dục, tình nghĩa ấy càng cao đẹp hơn, trở thành tình nghĩa đồng bào, đồng chí, tình nghĩa năm châu bốn biển một nhà. Hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin là phải sống với nhau có tình, có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống với nhau không có tình có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin được”.

3.4. Tinh thần quốc tế trong sáng

Hồ Chí Minh là tấm gương của một chiến sĩ cách mạng lỗi lạc, luôn trung thành với chủ nghĩa quốc tế vô sản, có đóng góp to lớn cho tình đoàn kết chiến đấu giữa nhân dân tất cả các nước, giữa các nước xã hội chủ nghĩa, giữa vô sản và các dân tộc bị áp bức và giữa các lực lượng tiến bộ trên thế giới với nhau.

Nội dung của tinh thần quốc tế trong sáng trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là sự tôn trọng và thương yêu tất cả các dân tộc, nhân dân các nước, chống sự hằn thù, bất bình đẳng dân tộc và sự phân biệt chủng tộc. Đoàn kết quốc tế vì mục tiêu hòa bình, dân chủ và tiến bộ.

Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là sự thống nhất giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Chủ nghĩa quốc tế là một trong những điểm đặc sắc của đạo đức cộng sản chủ nghĩa. Nó bắt nguồn từ bản chất quốc tế của giai cấp công nhân. Hồ Chí Minh nói: “Quan san muôn dặm một nhà. Bốn phương vô sản đều là anh em”. Từ đó, Hồ Chí Minh đưa ra khẩu hiệu: Giúp bạn là tự giúp mình. Như vậy, tinh thần quốc tế đòi hỏi phải chống lại thói vị kỷ dân tộc, sôvanh, hẹp hòi, biệt lập,… hướng tới mục tiêu hòa bình, hữu nghị, dân chủ, tiến bộ xã hội. Tinh thần quốc tế trong sáng làm cho con người trở nên cao thượng đẹp đẽ, nó là một phẩm chất đạo đức không thể thiếu của con người ở thời đại văn minh.

4. NHỮNG NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG

Nói tới tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, phải chú ý tới con đường và phương pháp hình thành đạo đức mới, đạo đức cách mạng. Đặc điểm và quy luật hình thành tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh cho thấy một số nguyên tắc cơ bản trong xây dựng đạo đức mới sau đây:

4.1. Đề cao tinh thần tự giác, tự mỗi người thường xuyên rèn luyện, tu dưỡng đạo đức suốt đời

Hồ Chí Minh khẳng định đạo đức cách mạng phải qua đấu tranh, rèn luyện bền bỉ mới thành. Người viết: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong… Có gì sung sướng vẻ vang hơn là trau dồi đạo đức cách mạng để góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và giải phóng loài người”.

Cũng như học tập, tu dưỡng rèn luyện đạo đức theo những chuẩn mực trong sáng là công việc suốt đời và phải trải qua đấu tranh gian khổ giữa tích cực và tiêu cực, tiên tiến và lạc hậu, giữa chủ nghĩa tập thể và chủ nghĩa cá nhân, giữa chính tâm với tà tâm ở ngay trong mỗi con người. Mỗi người phải trải qua cuộc “thử lửa” lâu dài, quyết liệt ấy mới bộc lộ rõ cái tâm, cái đức của mình. Hồ Chí Minh từng lấy hạt gạo làm vật liên tưởng:

“Gạo đem vào giã bao đau đớn

Gạo giã xong rồi trắng tựa bông

Sống ở trên đời người cũng vậy

Gian nan rèn luyện mới thành công”.

Để có được đạo đức trong sáng, mỗi người cũng phải tự phê bình, tự biết tẩy rửa, xóa bỏ những thói hư tật xấu và tự mình rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng một cách nghiêm khắc.

Mọi người có thể tìm thấy và học tập ở Hồ Chí Minh, một tấm gương sáng ngời về sự tự dưỡng đạo đức cách mạng. Từ lúc còn là một công nhân làm thuê, trong 30 năm bôn ba ở nước ngoài, đôi khi phải vào tù ra khám cho đến khi trở thành vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Đảng Cộng sản Việt Nam,… Người cũng chỉ với một tấm lòng kiên trung, bất khuất, để đấu tranh vượt qua mọi khó khăn, chiến thắng mọi kẻ thù, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ đối với Tổ quốc, với nhân dân, với Đảng và với cả bạn bè quốc tế.

4.2. Xây đi đôi với chồng, phải tạo thành phong trào quần chúng rộng rãi

Làm cách mạng là quá trình kết hợp chặt chẽ giữa xây và chống. Xây dựng đạo đức mới lại càng phải quan tâm hơn đến điều này. Bởi vì, trong Đảng và trong mỗi người, vì những lý do khác nhau, nên không phải “người người đều tốt, việc việc đều hay”. Hồ Chí Minh từng nói: “Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần” ?. Mặt khác, cuộc cách mạng của nhân dân ta là cuộc đấu tranh lâu dài, khó khăn. Chúng ta vừa phải chống lại nọc độc của xã hội cũ, những cái xấu nảy sinh; vừa phải chống lại bọn đế quốc và phải chống cả nghèo nàn, lạc hậu, thói hư tật xấu. Vì vậy, thái độ của người cách mạng là phải kiên quyết đấu tranh chống lại cái xấu, cái ác, phải bồi dưỡng và phát triển cái thiện, cái tốt đẹp cho xã hội. Do đó, xây phải đi đôi với chồng. Trong đó, xây là chính, là nhiệm vụ cơ bản lâu dài. Nhưng muốn xây phải chống, chống nhằm mục đích xây.

Trong quá trình xây và chống, phải luôn coi trọng và tổ chức tốt quá trình giáo dục, rèn luyện, xây dựng đạo đức ở cả ba môi trường: Gia đình, nhà trường và xã hội. Đồng thời, xây và chống phải tạo thành phong trào quần chúng rộng rãi và đem lại những hiệu quả thiết thực thông qua các phong trào thi đua như: thi đua sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí, quan liêu, cuộc vận động “3 xây, 3 chống”. Tổ chức phong trào thi đua phải có chất lượng, hiệu quả, việc thưởng phạt nghiêm minh, được thực hiện kịp thời, đúng mức không chỉ có tác dụng thúc đẩy phong trào cách mạng, mà điều quan trọng là qua đó, việc xây dựng, giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện những con người mới trước hết là về mặt phẩm chất đạo đức, sẽ càng được nâng cao. Hồ Chí Minh từng chỉ rõ: “Bất kỳ việc to, việc nhỏ đều phải có thi đua thì mới có cố gắng”.

4.3. Nói đi đôi với làm, nêu gương về đạo đức

Hồ Chí Minh đã chỉ ra được bản chất đạo đức của giai cấp bóc lột là “nói nhưng không làm”, “bắt nhân dân làm để phục vụ lợi ích cho chúng”. Đó là đạo đức giả, đạo đức thủ cựu. Nền đạo đức mới mà Người chủ trương xây dựng là chú trọng thực hành đạo đức, chống thói đạo đức giả, mị dân, dùng lời nói để đỡ tay chân. Người luôn yêu cầu mỗi cán bộ, Đảng viên cần tránh tình trạng “Nghị quyết đầy túi áo, thông cáo đầy túi quần”, trong khi công việc thiết thực cho địa phương không làm được. Đối với mỗi người, lời nói phải đi đôi với việc làm thì mới mang lại hiệu quả thiết thực. Nếu nói nhiều mà làm ít hoặc nói mà không làm, nói một đằng làm một nẻo là không trung thực, lừa dối sẽ đánh mất niềm tin.

Đạo đức mới chỉ được xây dựng trên một cái nền rộng lớn, vững chắc khi những chuẩn mực đạo đức đã trở thành hành vi đạo đức, phổ biến trong toàn xã hội và những tấm gương đạo đức của những người tiêu biểu, những người tốt việc tốt có ý nghĩa thúc đẩy cho quá trình đó. Hồ Chí Minh nói: “Lấy gương người tốt, việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau là một cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới”. Và bản thân Người là một tấm gương mẫu mực cho mỗi thế hệ người Việt Nam noi theo. Sau Cách mạng Tháng Tám, Hồ Chí Minh kêu gọi mọi người 10 ngày nhịn một bữa, mỗi bữa một bơ để cứu giúp những người bị đói và chính Người – một vị Chủ tịch nước cũng đã gương mẫu thực hiện. Kêu gọi mọi người thường xuyên tập thể dục vì một người dân khỏe mạnh thì cả dân tộc khỏe mạnh và Người thì “tự tôi ngày nào tôi cũng tập”. Người căn dặn đội ngũ cán bộ, đảng viên: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”

5. KHÁI QUÁT CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VỀ HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA HIỆN NAY

Hiện nay, có một thực tế đang diễn ra là một bộ phận nhân dân mất niềm tin vào Đảng, chế độ. Không phải chỉ nhân dân suy giảm niềm tin vào Đảng, chế độ mà Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI còn nêu rõ là niềm tin của cán bộ, đảng viên với Đảng, chế độ có mặt bị giảm sút. Như vậy, vấn đề đặt ra cần được giải quyết mạnh mẽ là song song với việc tăng trưởng kinh tế, phải nhanh chóng phục hồi và củng cố niềm tin của nhân dân, của mỗi cán bộ, đảng viên vào sự lãnh đạo của Đảng. Để thực hiện được điều này, Đảng cần “tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, “kiên quyết, kiên trì tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI”; đồng thời, phải không ngừng đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi những mặt trái, những tệ nạn tiêu cực của cơ chế thị trường, của quá trình hội nhập quốc tế nhằm bảo vệ, phát huy những phẩm chất đạo đức tốt đẹp của dân tộc và tiếp thu tinh hoa đạo đức nhân loại. Ngoài ra, cần mở rộng, tăng cường việc giáo dục, bồi dưỡng tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống trong sáng, lành mạnh cho mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị.

Mỗi cán bộ, đảng viên phải rèn luyện và tu dưỡng đạo đức thường xuyên, liên tục và suốt đời theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Trước hết, mỗi cán bộ, đảng viên phải là người có đạo đức công dân, gương mẫu làm tròn bổn phận công dân. Bên cạnh đó, trong Đảng, trong một tổ chức, mỗi người cán bộ, đảng viên đó phải thật sự gương mẫu về phẩm chất đạo đức, lối sống, phong cách, tác phong, lề lối công tác và phải thật sự “có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”. Đây là “cái nền” của tự phê bình, phê bình và là cơ sở cho sự đoàn kết thống nhất, đảm bảo cho sự phát triển trong Đảng. Mặt khác, phải “ít lòng tham muốn về vật chất”, ra sức chống chủ nghĩa cá nhân dưới mọi hình thức. Đồng thời, mỗi cán bộ, đảng viên phải học được ở Người việc nêu cao tinh thần trách nhiệm. Nếu không có trách nhiệm thì sẽ không bao giờ có ý nghĩ thường trực là phục vụ nhân dân, làm lợi cho nhân dân và hơn hết là dám chịu trách nhiệm về những hành vi của mình trước nhân dân.

Đảng không chỉ cần có đạo đức, mà Đảng cần cả trí tuệ. Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên cần phải rèn luyện cả tài, phải “ham học, ham làm, ham tiến bộ”. Phải chống bảo thủ, phải luôn luôn đổi mới, phải dám thay đổi những nhận thức lạc hậu, những quan niệm đã lỗi thời, từ thực tiễn của thời đại mà tổng kết, rút ra những luận điểm mới, cách làm mới. Đổi mới là cách mạng, đổi mới là sáng tạo. Sáng tạo trên nền tảng đạo đức và trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân. Vì vậy, để cán bộ, đảng viên rèn luyện, tu dưỡng và giữ vững được đạo đức cách mạng thì nhân dân phải cùng giúp sức, phải hiểu rõ và phát huy hơn nữa vai trò là chủ và làm chủ của mình trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

Đạo đức là nền tảng của văn minh tinh thần một xã hội; là nguồn giá trị truyền thống quý báu nhất của một dân tộc. Đạo đức xã hội lành mạnh thì chế độ xã hội bền vững, đạo đức suy thoái thì xã hội rối loạn. Do đó, trong quá trình xây dựng, phát triển bền vững đất nước, toàn Đảng, toàn dân không chỉ phấn đấu xây dựng một đất nước giàu mạnh về kinh tế, đời sống vật chất được no ấm, hạnh phúc mà còn phải xây dựng cho được một xã hội văn minh với một nền đạo đức, văn hóa lành mạnh đối với cả cộng đồng dân tộc cho đến tận từng gia đình và mỗi con người. Đây mới chính là cách thiết thực để biến trớc mơ và tư tưởng Hồ Chí Minh thành hiện thực.

Như vậy, hơn lúc nào hết, việc quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh nói riêng vào cuộc sống là thật sự cần thiết, có ý nghĩa quyết định đối với việc xây dựng đạo đức cách mạng cho mọi thế hệ công dân Việt Nam, đặc biệt, giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên tu dưỡng, sửa chữa, khắc phục, đẩy lùi tình trạng suy thoái “có tính nghiêm trọng” về “tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, bè phái, “lợi ích nhóm”, nói không đi đôi với làm” nhằm đảm bảo “xây dựng Đảng vững mạnh về đạo đức”, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng Đảng mà Đại hội XII đã đề ra. Từ đó, cùng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng.

5.1. Khái quát

Vấn đề học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong Đảng và xã hội đã có quá trình lịch sử liên tục, lâu dài.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II năm 1951, Đảng ta đặt vấn đề học tập đường lối chính trị, đạo đức, tác phong và noi theo tấm gương đạo đức của Hồ Chí Minh, nhưng chỉ ở phạm vi toàn Đảng”. Tại Lễ truy điệu Người, trong Điếu văn Chủ tịch Hồ Chí Minh do đồng chí Lê Duẩn đọc, đã khẳng định: “Suốt đời học tập đạo đức, tác phong của Người, bồi dưỡng phẩm chất cách mạng, không sợ gian khổ, không sợ hy sinh, rèn luyện mình thành những chiến sĩ trung thành với Đảng, với dân, xứng đáng là đồng chí, là học trò của Hồ Chủ tịch”. Tiếp đó, ngày 29-9-1969, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra Chỉ thị về đợt sinh hoạt chính trị “Học tập và làm theo Di chúc của Hồ Chủ tịch” và từ năm 1970, khẩu hiệu “Sống, chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại” với yêu cầu học tập và làm theo gương Bác đã được toàn Đảng, toàn dân nêu cao thực hiện.

Ngày 27-3-2003, Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa IX ban hành Chỉ thị số 23 – CT / TW về “Đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới”, có xác định mục đích: “Tạo ra phong trào rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng theo gương Bác Hồ vĩ đại, đẩy lùi sự suy thoái đạo đức, lối sống”.

Trên cơ sở những kinh nghiệm thu được qua đợt làm điểm việc tổ chức Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” ở một số cơ quan Trung ương và địa phương trong năm 2005, cùng với việc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng, ngày 07-11-2006, Bộ Chính trị khóa X ban hành Chỉ thị 06 CT / TW về tổ chức Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong toàn Đảng, toàn dân từ ngày kỷ niệm 70 năm thành lập Đảng ( 03-02-2007 ) tới hết nhiệm kỳ Đại hội X của Đảng.

Đại hội Đảng lần thứ XI yêu cầu đưa việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, lâu dài của cán bộ, đảng viên, của các chi bộ, tổ chức đảng và các tầng lớp nhân dân. Thực hiện Nghị quyết Đại hội XI, ngày 14-5-2011, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị 03 – CT / TW về “Tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Đây là giải pháp hàng đầu trong nhóm giải pháp về công tác chính trị tư tưởng để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”.

Đến Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định “đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; coi đó là công việc thường xuyên của các tổ chức Đảng, các cấp chính quyền, các tổ chức chính trị – xã hội, địa phương, đơn vị gắn với chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Việc xác định “học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là một nội dung quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng” đã nhấn mạnh hơn nữa về tầm quan trọng, vị trí, vai trò của việc học Hồ Chí Minh đối với công tác xây dựng Đảng một cách toàn diện, cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, chứ không chỉ giới hạn trong nhóm giải pháp về chính trị tư tưởng. Vì vậy, mục đích, yêu cầu của việc tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được xác định cao hơn, phạm vi rộng hơn so với Chỉ thị 05 – CT / TW và Chỉ thị 03 – CT / TW. Trong đó, nhấn mạnh, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, nhất là về tư tưởng chính trị và các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Đây là lần đầu tiên trong Văn kiện Đại hội XII của Đảng khẳng định xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh không chỉ về chính trị, tư tưởng, tổ chức, mà còn nhấn mạnh xây dựng Đảng về đạo đức và cũng là lần đầu tiên phong cách Hồ Chí Minh” được nhấn mạnh chính thức trong văn kiện Đại hội Đảng.

Ngày 15-5-2016, Bộ Chính trị khóa XII đã ban hành Chỉ thị 05 về “Đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, với trọng tâm là học tập và làm theo phong cách, tác phong Hồ Chí Minh về: dân chủ, nêu gương, quần chúng, khoa học, nói đi đôi với làm,… với mục tiêu tạo động lực mới trong việc đổi mới phong cách, tác phong công tác của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu các cấp, các ngành.

5.2. Một số vấn đề đặt ra hiện nay

5.2.1. Cần được triển khai liên tục, lâu dài, nhiều thế hệ

Từ Đại hội II đến hiện nay, việc học tập tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh có tính liên tục, không bị ngắt quãng so với việc học tập và làm theo tư tưởng của Người. Tuy nhiên, Chỉ thị 06 CT / TW và Chỉ thị 03 – CT / TW đều xác định việc thực hiện Chỉ thị nhằm góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc nhiệm kỳ khóa X và khóa XI. Chỉ thị 05 – CT / TW cũng gắn với thực hiện nhiều Nghị quyết của Đảng, cụ thể là gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 ( khóa XI và khóa XII ); Nghị quyết 33 NQ / TW, ngày 06-9-2014 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng ( khóa XI ) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước và Nghị quyết 29 – NQ / TW ( khóa XI ) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nhưng không giới hạn thời gian thực hiện. Như vậy, Chỉ thị 05 không chỉ rộng hơn về nội hàm, cao hơn về yêu cầu, mà còn lâu dài hơn về thời gian.

Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng nhận định: “Những con người và những sự kiện lớn càng lớn lên với khoảng cách thời gian. Lịch sử diễn ra và tiến về phía trước, càng làm nổi bật tầm cao và chiều sâu của con người và sự nghiệp Hồ Chí Minh đối với các thế hệ ngày nay và mai sau của dân tộc Việt Nam và có thể của nhiều dân tộc khác”. Thực tiễn Việt Nam và thế giới với những biến động vừa qua và sắp tới càng minh chứng cho điều đó. Một sự gắn bó chặt chẽ và mang tính thời sự, cấp thiết giữa học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung và tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh nói riêng với sự phát triển bền vững của đất nước, của dân tộc theo thời gian của các thế hệ hôm nay và mai sau từ đó cũng được đặt ra.

5.2.2. Phải cụ thể hóa những nội dung và hình thức phù hợp với từng đối tượng

Trong Chỉ thị 05, Bộ Chính trị yêu cầu phải làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách của Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội, xây dựng văn hoá, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đó là sự nghiệp của toàn dân, không phải chi trong phạm vi nội bộ của Đảng. Hay nói cách khác, phải làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhận thức ngày càng sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của tư tưởng, tấm gương đạo đức của Người. Để thực hiện tốt điều đó phải cụ thể hóa nội dung, hình thức học tập và làm theo tư tưởng đạo đức của Người phù hợp với từng đối tượng, nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và hành động trong Đảng, hệ thống chính trị và nhân dân.

Qua khảo sát thực tế hiện nay cho thấy, việc cụ thể hóa nội dung và hình thức học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh bên cạnh những kết quả đạt được thì vẫn còn nhiều hạn chế chưa được khắc phục. Đây cũng chính là một trong những khó khăn cơ bản nhất trong việc học tập và làm theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh hiện nay. Nhiều văn bản triển khai thực hiện của các cấp chỉ là sự thay đổi tên địa phương, đơn vị trên cơ sở văn bản chỉ đạo của cấp trên. Vì vậy, vấn đề đặt ra là trên cơ sở cái chung, ngoài việc phải đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện tốt các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, phát huy tính chủ động, sáng tạo, tinh thần trách nhiệm của cấp ủy các cấp; thì cần phải chủ động, tích cực đổi mới nội dung, hình thức chỉ đạo và xây dựng chương trình, kế hoạch hành động cụ thể, tổ chức thực hiện bảo đảm thiết thực, phù hợp, hiệu quả với từng địa phương, đơn vị, lĩnh vực và từng cá nhân. Tránh việc học tập và làm theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh một cách rập khuôn, máy móc, thiếu thực tế. Nếu không thực hiện tốt những điều này thì việc học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh sẽ không đảm bảo tính toàn diện, thiết thực và mang tính liên tục, lâu dài.

5.2.3. Khắc phục triệt để tính hình thức, phô trương lãng phí; phải thực sự đưa việc học tập và làm theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trở thành nhu cầu thiết thân hàng ngày

Qua hơn 10 năm thực hiện, việc học tập và làm theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh đã đạt được kết quả bước đầu, có những đóng góp đáng khích lệ vào sự phát triển kinh tế – xã hội, chăm lo đời sống của nhân dân, thực hiện các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, đối ngoại, xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị. Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, việc học tập và làm theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh còn có nhiều hạn chế, vẫn mang tính quán triệt, chưa trở thành ý thức tự giác và việc làm thường xuyên của không ít tổ chức đảng, cơ quan, địa phương, đơn vị, một bộ phận cán bộ, đảng viên và của hầu hết mọi người dân.

Vấn đề đặt ra hiện nay là cần phải làm thế nào để cuộc học tập này được thường xuyên, hiệu quả và việc học ấy phải làm cho từng cá nhân, tổ chức trong Đảng, trong dân trở nên tốt đẹp hơn. Bởi vì, nói như một nhà báo nước ngoài: Người ta không thể trở thành một Hồ Chí Minh, nhưng ở Hồ Chí Minh, người ta có thể học được một điều gì đó để làm cho mình trở thành tốt hơn, người hơn ! Từ đó góp phần đẩy lùi tình trạng tiêu cực, tham nhũng, xây dựng một xã hội tốt đẹp thì mới chứng minh được việc học tập và làm theo Hồ Chí Minh thật sự đi vào cuộc sống.

Muốn làm được như vậy, cần phải kiên quyết khắc phục triệt để tính hình thức, phô trương lãng phí vẫn còn dai dẳng đến tận bây giờ. Tránh mô hình nào xuất hiện cũng cho rằng đó là học tập và làm theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh. Phải có sự kiểm tra, giám sát, đôn đốc, thúc đẩy trong tổ chức Đảng, trong nhân dân, gắn với sự tự nguyện của từng cán bộ, đảng viên và nhất là phải nhấn mạnh đức tính gương mẫu, tiên phong, trách nhiệm của người đứng đầu. Đặc biệt, tự mỗi người phải tự hỏi và tự trả lời được lý do tại sao phải học tập và làm theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh,

“Chúng ta hãy hồi tỉnh lại, chúng ta sẽ thấy hiểu Hồ Chủ tịch hơn nhiều” và hãy “luôn coi như Bác sống trong mình và chính mình kế tục sự nghiệp của Bác”, thì khẩu hiệu “Chủ tịch Hồ Chí Minh sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta” mới thật sự có ý nghĩa và dẫn dắt chúng ta thực hiện việc học tập và làm theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh một cách tự nhiên, tin tưởng, chân thành và “làm những điều Hồ Chủ tịch dạy sẽ không khó nữa”.

5.2.4. Gắn chặt chẽ giữa học tập và làm theo; giữa tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh với tư tưởng và phong cách của Người

Những năm trước đây, Đảng ta đã nhấn mạnh học tập và làm theo Hồ Chí Minh về đạo đức. Từ Đại hội XII, đặc biệt từ Chỉ thị 05, Đảng ta đặc biệt nhấn mạnh là đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Với nội hàm học tập, làm theo Người rất đầy đủ, đa dạng, toàn diện, phong phú như vậy, Chỉ thị 05 là văn kiện chính thức đầu tiên của Đảng chỉ đạo học tập và làm theo toàn bộ di sản của Người. Đó là sự phát triển mới về lý luận, khẳng định quyết tâm chính trị, đáp ứng nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Từ đặc điểm tư tưởng Hồ Chí Minh và qua những điều trên cho thấy, một là gắn học với hành, tức là nói đi đôi với làm. Phải đặt sự tu dưỡng, rèn luyện, học tập và làm theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh dưới sự giám sát của nhân dân, trở thành tấm gương sáng trước mặt quần chúng. Thứ hai, phải học rất toàn diện, học Người cả tư tưởng, đạo đức và phong cách. Do đó, học tập và làm theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh không thể tách rời với hệ thống tư tưởng và phong cách của Người. Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là một nội dung trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh. Phong cách có liên quan chặt chẽ với đạo đức, đạo đức được thể hiện qua phong cách, qua phong cách có thể đánh giá được đạo đức, đánh giá được nhân cách của một con người.

Nguồn: Thân Ngọc Anh (2020), Tập bài giảng môn học Tư tưởng Hồ Chí Minh, NXB ĐH Quốc gia TP.Hồ Chí Minh, TP.HCM.

About the author

dainganxanh

Leave a Comment